Thân Vượng, Thân Nhược Là Gì? Yếu Tố Quyết Định Cách Đọc Cả Lá Số

Cùng một năm, cùng một cơ hội, hai người nhận về hai kết cục. Người này gặp vận tiền thì làm ăn mở ra, người kia gặp đúng vận ấy lại thấy tiền qua tay mà chẳng giữ được đồng nào.
Khác nhau không nằm ở năm. Nó nằm ở một chữ: Thân.
Thân Vượng hay Thân Nhược là kết luận quan trọng nhất khi đọc một lá số, vì mọi lời khuyên phía sau đều đảo chiều theo nó. Chưa trả lời được câu này thì chưa nên nghe ai phán màu nào hợp, hướng nào tốt, năm nào phát.
Mục lục
- Thân là gì trong lá số
- Thân Vượng và Thân Nhược nghĩa là gì
- Bốn thứ dùng để cân sức của Thân
- Vì sao đếm số chữ lại ra kết quả sai
- Người Thân Vượng: chỗ mạnh và chỗ cần giữ
- Người Thân Nhược: chỗ mạnh và chỗ cần giữ
- Bảng đối chiếu nhanh hai kiểu
- Một ca thật
- Chỗ nhiều người hiểu sai: vượng là tốt, nhược là kém
- Biết Thân của mình rồi thì dùng vào việc gì
- Hỏi đáp
1. Thân là gì trong lá số

Chữ "Thân" ở đây chỉ Nhật Chủ, Thiên Can của trụ Ngày, chính là người có lá số. Nói Thân Vượng tức là nói Nhật Chủ đang mạnh. Nói Thân Nhược tức là Nhật Chủ đang mỏng sức.
Cần phân biệt ngay: đây không phải sức khỏe thân thể, cũng không phải giàu nghèo. Nó là sức gánh của cấu trúc bên trong một người.
Hình dung bằng chuyện gánh hàng. Cùng một gánh nặng năm chục cân. Người vai rộng chân vững thì gánh đi cả buổi vẫn thong thả. Người mỏng sức thì đi được vài chục bước đã phải đặt xuống. Gánh không đổi, người gánh mới là chỗ khác nhau.
Trong Bát Tự, gánh ấy là tiền bạc, là chức vụ, là trách nhiệm, là những thứ đời đưa tới. Còn sức gánh chính là Thân. Muốn hiểu kỹ về chữ trung tâm này, xem bài Nhật Chủ là gì.
2. Thân Vượng và Thân Nhược nghĩa là gì

Thân Vượng là Nhật Chủ được nâng đỡ nhiều: sinh đúng mùa hợp, có gốc dưới chân, quanh mình nhiều chữ tiếp sức. Người này có sẵn nội lực, tự đứng được, đủ sức gánh việc lớn.
Thân Nhược là Nhật Chủ bị rút sức nhiều hơn được tiếp: sinh vào mùa nghịch, không gốc hoặc gốc mỏng, quanh mình nhiều chữ khắc chế và tiêu hao. Người này cần chỗ dựa, cần môi trường nâng, làm một mình thì đuối.
Giữa hai mức ấy còn có trung hòa, không hẳn vượng, không hẳn nhược. Đây là dạng khó luận nhất, vì chỉ cần một chặng vận thêm vào là cán cân lật sang bên kia. Người luận non hay lúng túng ở đúng chỗ này.
3. Bốn thứ dùng để cân sức của Thân

| Yếu tố | Hỏi gì | Sức nặng |
|---|---|---|
| Đắc lệnh | Nhật Chủ có sinh vào mùa hợp với ngũ hành của mình không | Nặng nhất, chiếm phần lớn kết luận |
| Đắc địa | Có chữ nào ở hàng dưới cùng ngũ hành đỡ chân không | Nặng, quyết định Nhật Chủ có gốc hay không |
| Đắc trợ | Quanh Nhật Chủ có bao nhiêu chữ sinh cho và cùng ngũ hành | Vừa, cộng thêm vào phần được nâng |
| Khắc tiết hao | Bao nhiêu chữ khắc chế, rút sức, làm hao | Trừ đi, đối trọng với ba phần trên |
Đắc lệnh là chỗ nặng ký nhất, vì mùa quyết định khí. Cây mùa xuân và cây mùa đông, cùng một cây mà hai cảnh. Người sinh đúng mùa của mình thì như được cả thời tiết đứng về phía mình.
Đắc địa là có gốc. Nhật Chủ nằm ở hàng trên, cần một chữ hàng dưới đỡ chân. Có gốc thì đứng vững, gió lay không đổ. Không gốc thì như cây trồng trên chậu cạn: nhìn thì xanh, gió mạnh là bật rễ.
Cân xong bốn thứ này mới ra kết luận. Nền về năm loại khí nằm ở bài Ngũ hành trong Bát Tự, còn cách chia âm dương của từng chữ ở bài Âm dương trong Bát Tự.
4. Vì sao đếm số chữ lại ra kết quả sai
Cách làm quen thuộc của người mới: đếm thấy trong lá số có bốn chữ thuộc Thủy, Nhật Chủ cũng Thủy, liền kết luận Thân Vượng. Cách ấy sai thường xuyên.
Lý do: bốn chữ ấy có thể đều không có gốc, lại sinh vào mùa nghịch, và bị khắc từ hai phía. Bốn chữ trên giấy mà lực thật gần như không còn. Ngược lại, có lá số Nhật Chủ chỉ có hai chữ cùng loại nhưng cả hai đều có gốc, lại sinh đúng mùa, thành ra vượng hẳn.
Người xưa nói ý này rất gọn: xem khí chứ không xem số. Một chữ có gốc mạnh hơn ba chữ lơ lửng.
Đây cũng là chỗ tách người luận có nghề với người tra bảng. Tra bảng thì đếm được. Cân khí thì phải hiểu mùa, hiểu gốc, hiểu chuỗi sinh khắc chạy vòng.
5. Người Thân Vượng: chỗ mạnh và chỗ cần giữ
Người Thân Vượng có sẵn nội lực. Họ tự đứng được, không cần ai đẩy, gặp việc khó thường thấy hăng lên chứ không lùi.
Chỗ mạnh: dám nhận trách nhiệm lớn, chịu được áp lực dài, hợp đứng mũi chịu sào. Vào vận thuận thì bung ra rất nhanh, vì sức vốn đã có sẵn, chỉ chờ chỗ để dùng.
Chỗ cần giữ: sức thừa mà không có chỗ tiêu thì quay ra va chạm. Người Thân Vượng hay ôm việc, khó chia quyền, ít khi chịu nghe ai. Trong nhà thì hay áp đặt mà tự thấy mình đang lo cho người khác.
Thứ họ cần: không phải thêm sức, mà là chỗ để dùng sức và người dám nói ngược. Người Thân Vượng gặp việc lớn, gặp áp lực đúng mức, gặp người dám cãi lại, đó mới là lúc họ ra được giá trị thật.
6. Người Thân Nhược: chỗ mạnh và chỗ cần giữ
Người Thân Nhược mỏng nội lực hơn, nhưng bù lại thường nhạy hơn với người và với hoàn cảnh.
Chỗ mạnh: biết lắng nghe, chịu học, dễ được người khác nâng đỡ. Làm việc trong một hệ thống có sẵn thì phát huy tốt, vì hệ thống chính là chỗ dựa mà họ cần.
Chỗ cần giữ: ôm quá sức thì đuối. Có câu cổ nói về cảnh này: Tài đa Thân nhược, phú ốc bần nhân, nhà đầy của mà người vẫn nghèo. Nghĩa là cơ hội bày ra trước mắt nhiều hơn sức nhận. Tiền vào rồi lại đi, chức lên rồi lại thấy mình không thở nổi. Không phải vì kém, mà vì gánh nặng hơn vai.
Thứ họ cần: người nâng, môi trường có hệ thống, và biết nói không đúng lúc. Người Thân Nhược làm cùng người khác thường đi xa hơn làm một mình. Chọn đúng chỗ dựa quan trọng hơn chọn việc to.
7. Bảng đối chiếu nhanh hai kiểu
| Thân Vượng | Thân Nhược | |
|---|---|---|
| Nội lực | Có sẵn, tự đứng được | Mỏng hơn, cần chỗ dựa |
| Hợp đường nào | Làm chủ, mở doanh nghiệp, đứng mũi chịu sào | Làm trong hệ thống có sẵn, hoặc làm riêng cùng người đồng hành |
| Gặp vận Tài | Đủ sức nhận, thường là lúc bung ra | Cơ hội nhiều hơn sức gánh, cần chọn lọc |
| Thứ cần thêm | Chỗ tiêu sức, người dám nói ngược | Người nâng đỡ, khuôn khổ rõ ràng |
| Thứ nên tránh | Bổ thêm sức vào chỗ đã thừa | Ôm quá sức rồi gánh một mình |
| Dễ vấp ở đâu | Ôm việc, khó chia quyền, ít nghe ai | Nể nang, khó từ chối, nhận rồi mới thấy nặng |
Bảng này chỉ là nét lớn để nhớ. Người trung hòa nằm giữa hai cột, và vị trí của họ dịch chuyển theo từng chặng vận mười năm.
8. Một ca thật
Một anh bốn mươi tuổi tìm tới, nói mười năm qua anh mở ba công ty, cả ba đều lên được chừng hai năm rồi xuống. Anh hỏi có phải mệnh mình không có phần làm chủ.
Mở lá số đối chiếu. Nhật Chủ thuộc Đinh Hỏa, sinh giữa mùa đông, không có gốc dưới chân, quanh mình lại nhiều Thủy. Thân Nhược rõ.
Nhìn kỹ hơn thì thấy điều đáng nói: lá số anh rất nhiều Tài. Tức là cơ hội kiếm tiền đến với anh liên tục, đó là thật, không phải anh kém may. Nhưng Tài trong Bát Tự không chỉ là tiền, nó còn là trách nhiệm đi kèm khoản tiền ấy. Người mỏng sức mà Tài dày thì thấy tiền nhiều, mà cũng thấy gánh nặng nhiều.
Ba lần mở công ty là ba lần anh một mình gánh cả phần vốn, phần vận hành, phần nhân sự. Lên hai năm rồi xuống, không phải vì mô hình sai, mà vì tới ngưỡng sức là dừng.
Hướng bàn với anh không phải bỏ làm chủ. Là làm chủ theo cách khác: có người đồng hành gánh phần vận hành, giữ quy mô vừa tầm, và đừng mở cái thứ tư khi cái thứ ba chưa đứng vững.
Anh cười: "Tôi cứ tưởng làm lớn hơn thì sẽ đỡ mệt hơn."
9. Chỗ nhiều người hiểu sai: vượng là tốt, nhược là kém

Hiểu sai thứ nhất: Thân Vượng thì hơn.
Không có mức nào hơn mức nào. Thân Vượng mà không có chỗ tiêu hao thì thành sức thừa: nóng nảy, va chạm, ôm nhiều mà xong ít. Thân Nhược mà được nâng đúng cách thì sống rất thuận, lại thường được lòng người. Cái đáng bàn là lá số có cân hay không.
Hiểu sai thứ hai: Thân Nhược thì không làm chủ được.
Làm chủ được, chỉ là làm theo kiểu khác. Người Thân Vượng làm chủ bằng cách tự gánh. Người Thân Nhược làm chủ bằng cách dựng đội, chọn đúng người, xây hệ thống chạy được mà không cần mình luôn có mặt. Nhiều cơ nghiệp bền do người Thân Nhược dựng nên.
Hiểu sai thứ ba: Thân Vượng thì cứ bổ thêm sức là tốt.
Đây là chỗ hay bổ nhầm nhất. Người Thân Vượng gặp thêm chữ tiếp sức là thừa chồng thừa, như đổ thêm dầu vào lửa đã to. Thứ họ cần là chỗ tiêu và chỗ chế. Vì vậy hành đang thiếu chưa chắc là hành cần bổ, thứ lá số thật sự cần gọi là Dụng Thần, và nó được chọn sau khi đã cân xong Thân.
10. Biết Thân của mình rồi thì dùng vào việc gì
- Chọn đường sự nghiệp. Thân Vượng hợp đứng mũi chịu sào, mở doanh nghiệp, nhận phần nặng. Thân Nhược hợp làm việc trong một tập đoàn hay công ty có hệ thống, hoặc làm riêng nhưng có người đồng hành. Đây là câu hỏi thực tế nhất mà người ta mang tới.
- Biết ngưỡng của mình. Người Thân Nhược nên nhận việc theo sức, mở rộng từng bước. Người Thân Vượng ngược lại, giữ mãi ở chỗ nhỏ thì bức bối rồi sinh chuyện.
- Đọc đúng vận tới. Cùng một chặng đưa Tài vào, người đủ sức thì đó là lúc phát, người mỏng sức thì đó là lúc phải cẩn trọng với việc ôm thêm. Xem thêm bài Đại Vận, Lưu Niên là gì.
- Bổ khuyết cho đúng. Biết Thân rồi mới chọn được thứ cần bù, và bù bằng nghề nghiệp, môi trường, nếp sống chứ không chỉ bằng vật phẩm. Cách nhận biết ở bài nhận biết thiếu ngũ hành nào để bổ khuyết cho đúng.
- Hiểu người trong nhà. Con Thân Nhược cần được nâng và cần thời gian, ép quá thì nó thu mình. Con Thân Vượng cần chỗ để dùng sức, giữ chặt quá thì nó bứt ra.
Muốn biết Thân của mình đang ở đâu, trước hết cần có đủ bốn trụ. Cách lập nằm ở bài Lập lá số Bát Tự, hoặc lập thẳng tại công cụ Lập lá số Bát Tự.
Đọc tiếp: Nhat chu than nhuoc trong tinh yeu · Thap than trong bat tu
Hỏi đáp
Thân Vượng hay Thân Nhược có đổi theo thời gian không?
Kết luận rút từ lá số thì cố định, nhưng cán cân thực tế có đổi theo từng chặng vận. Một người Thân Nhược đi vào chặng vận có nhiều chữ tiếp sức sẽ sống như người đủ lực trong suốt mười năm ấy, làm gì cũng thấy nhẹ hơn. Hết chặng thì trở lại cấu trúc gốc. Vì vậy đừng lấy cảm giác của một giai đoạn mà kết luận về cả đời.
Lá số trung hòa, không vượng không nhược thì đọc thế nào?
Dạng này cần xem kỹ hơn hai dạng kia, vì Dụng Thần của nó không cố định mà đổi theo vận. Có chặng cần được nâng, có chặng cần được tiết bớt. Người có lá số trung hòa thường sống linh hoạt, thích nghi tốt, nhưng cũng dễ thấy mình không có một hướng đi rõ ràng nào suốt đời.
Thân Nhược có phải hay ốm đau hơn không?
Không nên hiểu theo nghĩa sức khỏe thân thể. Thân trong Bát Tự nói về sức gánh của cấu trúc, không phải thể trạng. Nhiều người Thân Nhược rất khỏe mạnh, chỉ là họ hợp lối sống có nhịp và có chỗ dựa hơn là lối sống căng liên tục. Chuyện sức khỏe cần bác sĩ, mệnh lý không thay được việc đó.
Vợ chồng một người vượng một người nhược thì có hợp không?
Thường lại dễ đi cùng nhau hơn là hai người cùng vượng. Bên vượng gánh phần đối ngoại và quyết định lớn, bên nhược giữ phần bền và phần tình. Điều cần chú ý là bên vượng dễ áp đặt mà không nhận ra, còn bên nhược hay nhịn rồi tích lại. Nói ra được với nhau thì cặp này đi xa.
Có cách nào tự đoán mình vượng hay nhược không?
Có vài dấu hiệu để tự cảm nhận, tuy không thay được việc cân lá số. Người thiên về vượng thường thấy mình đủ sức làm một mình, ngại bị quản, gặp việc khó thì hăng lên. Người thiên về nhược thường thấy nhẹ nhõm khi có người cùng gánh, làm tốt nhất khi có khuôn khổ rõ. Nhưng hai dấu hiệu này dễ nhầm với thói quen do hoàn cảnh tạo ra, nên vẫn cần đối chiếu toàn cục lá số mới chắc.
Xem thế Thân của chính mình
Đây là câu hỏi phải trả lời trước mọi câu hỏi khác trong Bát Tự. Sai từ gốc thì đúng bao nhiêu ở ngọn cũng không dùng được.
Bạn có thể lập lá số tại công cụ Lập lá số Bát Tự. Nếu đang cần chọn thời điểm cho một việc cụ thể, dùng thêm công cụ Xem ngày tốt xấu theo Bát Tự.
Muốn được đối chiếu toàn cục lá số, xem mình đang Thân Vượng hay Thân Nhược và nên đi đường nào cho hợp sức, gửi lại đủ ngày, tháng, năm và giờ sinh, cùng xem với nhau.
Về thông tin của bạn: chỉ cần ngày, tháng, năm và giờ sinh. Không cần thông tin nào khác.








