Âm Dương Trong Bát Tự: Nhật Chủ Âm Và Nhật Chủ Dương Khác Nhau Ra Sao

Người ta hay hỏi mệnh mình thuộc ngũ hành gì. Ít ai hỏi mệnh mình thuộc âm hay dương. Mà chính chữ ấy mới quyết định cùng một ngũ hành sẽ hiện ra thành hai kiểu người hoàn toàn khác nhau.
Hai người cùng thuộc Mộc. Một người là cây đại thụ, đứng đâu che bóng đó, gãy thì gãy chứ không chịu cong. Một người là dây leo, gặp tường thì bò lên tường, gặp rào thì luồn qua rào, mềm mà đi được rất xa. Cùng một ngũ hành, khác nhau ở chữ âm dương.
Bài này nói về âm dương trong lá số: nó là gì, hiện ra ở đâu trong bốn trụ, vì sao lệch âm dương lại rắc rối hơn thiếu một ngũ hành, và biết mình nghiêng bên nào rồi thì dùng vào việc gì.
Mục lục
- Âm dương là gì, nói cho dễ hiểu
- Âm dương hiện ra ở đâu trong lá số
- Mười Thiên Can chia âm dương thế nào
- Mười hai Địa Chi chia âm dương thế nào
- Nhật Chủ âm và Nhật Chủ dương: hai kiểu người
- Lệch âm dương thì sao
- Một ca thật
- Chỗ nhiều người hiểu sai: dương tốt, âm xấu
- Âm dương với nam mệnh và nữ mệnh
- Biết mình nghiêng bên nào rồi thì làm gì
- Hỏi đáp
1. Âm dương là gì, nói cho dễ hiểu

Âm dương là cách người xưa gọi hai mặt của mọi thứ trên đời. Sáng và tối. Nóng và lạnh. Động và tĩnh. Ra và vào. Không có mặt nào tồn tại một mình.
Dương là khí đi ra: bốc lên, mở rộng, chủ động, nhanh, bộc lộ. Âm là khí đi vào: lắng xuống, thu lại, bền bỉ, chậm, giữ trong lòng.
Hình dung bằng chuyện thở. Hít vào là âm, thở ra là dương. Không ai sống được nếu chỉ hít mà không thở, hoặc chỉ thở mà không hít. Cơ thể khỏe là cơ thể ra vào đều đặn.
Lá số cũng vậy. Một lá số đẹp không phải là lá số nhiều dương hay nhiều âm, mà là lá số ra vào có nhịp. Cổ nhân gói lại trong một câu: quân bình là lành, thiên lệch là chỗ phải lưu tâm.
2. Âm dương hiện ra ở đâu trong lá số
Trong lá số Bát Tự, mỗi trụ gồm một chữ trên và một chữ dưới. Chữ trên là Thiên Can, chữ dưới là Địa Chi. Cả bốn trụ ấy, chữ nào cũng mang sẵn hai thuộc tính: một là ngũ hành, hai là âm hoặc dương.
Nói cách khác, ngũ hành cho biết chất liệu, âm dương cho biết cách chất liệu ấy vận động. Kim là chất. Kim dương là thanh đao đã tuốt khỏi vỏ. Kim âm là chiếc kim khâu, nhỏ mà xuyên được vào chỗ dày.
Nhiều người đọc lá số chỉ nhìn ngũ hành mà bỏ qua âm dương, nên mới hay thấy lời luận không khớp với con người thật ngồi trước mặt.
3. Mười Thiên Can chia âm dương thế nào

| Ngũ hành | Can dương | Can âm | Khác nhau ở chỗ nào |
|---|---|---|---|
| Mộc | Giáp | Ất | Giáp là cây lớn, thẳng và cứng. Ất là dây leo, mềm mà bám dai |
| Hỏa | Bính | Đinh | Bính là mặt trời, tỏa cho cả vùng. Đinh là ngọn đèn, sáng cho một chỗ |
| Thổ | Mậu | Kỷ | Mậu là đất núi, vững và cao. Kỷ là đất ruộng, mềm và nuôi được cây |
| Kim | Canh | Tân | Canh là kim loại thô, mạnh mà chưa gọt. Tân là vàng bạc đã tinh luyện, sáng mà mỏng |
| Thủy | Nhâm | Quý | Nhâm là sông lớn, chảy xa. Quý là mưa nhỏ, thấm sâu |
Nhìn bảng này sẽ thấy ngay: gọi chung là "người mệnh Hỏa" thì thiếu. Người Bính Hỏa sống kiểu tỏa ra cho nhiều người cùng thấy. Người Đinh Hỏa sống kiểu chăm chút một chỗ cho thật sáng. Hai đường đời khác nhau.
4. Mười hai Địa Chi chia âm dương thế nào
Mười hai Địa Chi cũng chia đôi, xen kẽ nhau theo thứ tự.
- Chi dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất
- Chi âm: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi
Địa Chi nằm ở hàng dưới, tức là phần chìm, phần gốc rễ. Vì vậy âm dương ở Địa Chi nói về cái bên trong nhiều hơn: cách một người xoay xở khi không ai nhìn, cách họ tích lũy, cách họ chịu đựng.
Một lá số có thể hàng trên toàn can dương mà hàng dưới toàn chi âm. Kiểu người ấy nhìn ngoài rất mạnh mẽ, quyết đoán, nhưng bên trong lại nhiều đắn đo, hay nghĩ ngợi một mình. Người ngoài thấy một đằng, người trong nhà thấy một nẻo.
5. Nhật Chủ âm và Nhật Chủ dương: hai kiểu người
Trong bốn trụ, chữ trên của trụ Ngày là Nhật Chủ, chính là bạn. Nhật Chủ thuộc âm hay dương quyết định cách bạn đối mặt với đời.
| Nhật Chủ dương | Nhật Chủ âm | |
|---|---|---|
| Cách ra quyết định | Nhanh, dứt khoát, quyết rồi mới bàn | Cân nhắc kỹ, quyết chậm nhưng ít đổi |
| Cách đối mặt khó khăn | Đối đầu trực diện, phá cho thông | Vòng qua, chờ thời, lấy mềm thắng cứng |
| Cách thể hiện | Nói ra, làm cho người ta thấy | Giữ trong lòng, làm rồi mới nói |
| Chỗ mạnh | Mở đường, khởi sự, dám chịu trách nhiệm | Bền, tinh tế, đọc được lòng người |
| Chỗ cần giữ | Nóng vội, dễ va chạm, khó lùi | Chần chừ lỡ dịp, ôm việc trong bụng |
Không kiểu nào hơn kiểu nào. Việc mở một thị trường mới cần người dương. Việc giữ một mối quan hệ lâu năm cần người âm. Đặt nhầm chỗ thì cả hai đều thấy chật vật.
6. Lệch âm dương thì sao
Đây là phần thực tế nhất của chuyện âm dương.
Dương thịnh, âm mỏng. Lá số gần như toàn can dương, chi dương. Người này sống rất nhanh: nghĩ là làm, làm là tới. Nhưng lửa lớn thì mau tàn. Khởi được nhiều việc mà ít việc đi tới cùng, và thân thể cũng hay bị vắt kiệt vì không biết lúc nào nên dừng. Người như vậy cần học cái nghỉ, cái chờ, cái lắng.
Âm thịnh, dương mỏng. Lá số nghiêng hẳn về âm. Người này sâu sắc, nghĩ trước nhiều bước, hiểu người khác rất nhanh. Nhưng nghĩ nhiều mà bước ít, việc gì cũng cân lên đặt xuống, tới lúc quyết thì thời điểm đã qua. Người như vậy cần môi trường có người thúc, có việc buộc phải ra mặt.
Âm dương xen kẽ đều. Lá số ra vào có nhịp. Kiểu người này biết lúc nào tiến lúc nào lùi, làm việc gì cũng có thủy có chung. Đây là mức đẹp, tuy không phải mức đông người có.
Có một điểm đáng lưu ý: lệch âm dương khó nhận ra hơn thiếu một ngũ hành. Thiếu ngũ hành thì nhìn lá số là thấy ngay chỗ trống. Còn lệch âm dương thì lá số vẫn đủ cả năm loại khí, nhìn qua tưởng cân, mà bên trong đã nghiêng hẳn về một phía.
7. Một ca thật
Một anh làm nghề kỹ thuật tìm tới, nói mình bị đánh giá là thiếu quyết đoán. Ba lần được đề bạt lên vị trí quản lý, ba lần anh từ chối. Anh muốn biết mình có phải người kém bản lĩnh không.
Mở lá số ra xem xét. Nhật Chủ thuộc âm, quanh anh gần như toàn chi âm, chỉ có một chữ dương duy nhất ở trụ năm. Nói cách khác, cấu trúc của anh vốn là kiểu người đi sâu chứ không phải kiểu người đi trước.
Vấn đề không nằm ở bản lĩnh. Nó nằm ở chỗ người ta cứ đo anh bằng thước của người dương: phải nói to, phải quyết nhanh, phải đứng mũi chịu sào. Còn cái anh làm giỏi nhất, ngồi ba tháng gỡ một lỗi mà cả nhóm bó tay, thì không ai đo.
Anh im lặng một lúc rồi nói: "Vậy mười lăm năm nay tôi cứ nghĩ mình có vấn đề."
Cuối cùng anh vẫn không nhận chức quản lý. Anh chuyển sang vị trí chuyên gia kỹ thuật, không quản người, chỉ giải bài toán khó. Nghe nói giờ anh sống dễ chịu hơn nhiều.
8. Chỗ nhiều người hiểu sai: dương tốt, âm xấu

Hiểu sai thứ nhất: dương là mạnh, âm là yếu.
Không phải. Dương mạnh theo kiểu bộc phát, âm mạnh theo kiểu bền bỉ. Nước mềm hơn đá, mà nước bào mòn được đá. Cái bền cũng là một loại sức mạnh, chỉ là nó không ồn ào nên ít người gọi tên.
Hiểu sai thứ hai: nam phải dương, nữ phải âm.
Trong mệnh lý, nam mệnh mà Nhật Chủ dương, nữ mệnh mà Nhật Chủ âm thì gọi là thuận tính. Nhưng thuận tính chỉ nghĩa là dễ hòa với khuôn mẫu chung của xã hội, không có nghĩa là tốt hơn. Rất nhiều người phụ nữ Nhật Chủ dương làm nên sự nghiệp lớn, và không ít người đàn ông Nhật Chủ âm sống rất sâu, rất tình.
Hiểu sai thứ ba: cứ nhiều dương thì dễ thành công.
Dương nhiều thì khởi sự nhanh, nhưng giữ thành quả lại cần âm. Người xưa có câu đại ý: dựng nghiệp cần khí dương, giữ nghiệp cần khí âm. Một lá số toàn dương thường lên nhanh mà cũng dễ trôi mất những gì đã có.
Thứ đáng nhìn không phải nhiều hay ít, mà là cán cân âm dương đang nghiêng bao nhiêu, và Dụng Thần của lá số cần bổ thêm bên nào.
9. Âm dương với nam mệnh và nữ mệnh
Có một chỗ âm dương ảnh hưởng trực tiếp tới cách lập lá số: cách tính Đại Vận.
Nam sinh năm can dương và nữ sinh năm can âm thì tính Đại Vận theo chiều xuôi. Nam sinh năm can âm và nữ sinh năm can dương thì tính theo chiều ngược. Cùng ngày sinh, khác giới tính, chuỗi vận mười năm đi theo hai hướng khác nhau.
Đây là lý do anh em ruột sinh sát nhau, thậm chí sinh đôi khác giới, vẫn có đường đời khác hẳn. Chi tiết về chuỗi vận nằm ở bài Đại Vận, Lưu Niên là gì.
10. Biết mình nghiêng bên nào rồi thì làm gì

- Chọn nghề đúng nhịp của mình. Người nghiêng dương hợp việc mở đường, tiếp xúc rộng, cần ra quyết định nhanh. Người nghiêng âm hợp việc cần chiều sâu, cần kiên nhẫn, cần làm kỹ hơn làm nhanh. Chọn ngược nhịp thì gắng gấp đôi vẫn thấy chật.
- Bù bên đang mỏng bằng nếp sống. Người dương thịnh nên tập cái tĩnh: ngủ đủ, đi bộ, đọc sách, làm việc gì đó chậm và lặp lại. Người âm thịnh nên tập cái động: đặt hạn cho mình, tập nói ra ý kiến, tham gia việc buộc phải ra mặt.
- Chọn người đi cùng. Người dương với người dương thì làm nhanh nhưng dễ va. Người âm với người âm thì êm nhưng chậm. Cặp đi được xa thường là một bên mở đường, một bên giữ hậu phương.
- Hiểu con. Đứa trẻ nghiêng dương cần chỗ để chạy, nhốt trong khuôn thì nó bứt. Đứa trẻ nghiêng âm cần thời gian để chuyển, giục quá thì nó thu mình lại. Cùng một cách dạy, hai đứa nhận về hai kết quả trái ngược.
- Biết lúc tiến lúc giữ. Cán cân âm dương còn đổi theo từng chặng vận. Chặng đưa thêm dương vào một lá số vốn đã dương thì đó là lúc dễ bốc đồng, nên có người kìm bên cạnh. Chặng bù âm thì đó là lúc thích hợp để củng cố, tích lũy.
Muốn xem cán cân âm dương và lực lượng ngũ hành trong lá số mình, trước hết cần có bốn trụ. Cách lập nằm ở bài Lập lá số Bát Tự, hoặc lập thẳng tại công cụ Lập lá số Bát Tự.
Hỏi đáp
Lá số toàn dương hoặc toàn âm có phải hiếm không?
Không quá hiếm, nhưng cũng không nhiều, và trong mệnh lý còn có tên riêng cho những cấu trúc như vậy. Điểm cần lưu ý là cấu trúc thuần một bên thường đi kèm cá tính rất rõ nét, mạnh chỗ mạnh mà cũng lộ chỗ yếu. Người có cấu trúc này nên chọn nghề và chọn người đi cùng kỹ hơn, vì họ ít có phần trung hòa để tự điều tiết.
Âm dương có đổi được không hay cố định cả đời?
Bốn trụ thì cố định, nhưng cán cân thì đổi. Mỗi chặng vận mười năm và mỗi năm đi qua đều đưa thêm can chi mới vào lá số, có chặng bù dương, có chặng bù âm. Vì vậy một người có thể trải qua giai đoạn sống rất hướng ra ngoài, rồi sang giai đoạn khác lại thu vào, mà bản chất không hề thay đổi.
Chọn màu sắc hay đồ vật theo âm dương có tác dụng gì không?
Có, nhưng ở mức trợ lực chứ không phải mức quyết định. Màu và không gian tạo cảm giác quen, nhắc người ta nhớ mình đang muốn điều chỉnh theo hướng nào. Thứ chuyển được cán cân rõ hơn nhiều vẫn là nghề nghiệp, nhịp sinh hoạt và những việc lặp lại mỗi ngày.
Vợ chồng nên hợp nhau về âm dương hay giống nhau thì tốt hơn?
Kinh nghiệm cho thấy cặp bù trừ nhau thường đi được xa hơn cặp giống nhau, vì mỗi bên gánh phần bên kia yếu. Nhưng bù trừ cũng cần một điểm chung để hiểu nhau, thường là giá trị sống hoặc cách tiêu tiền. Bù trừ mà không có điểm chung nào thì thành hai người sống hai nhịp trong cùng một nhà.
Người nghiêng âm có làm lãnh đạo được không?
Được, nhưng theo kiểu khác. Người dương lãnh đạo bằng cách đi trước và kéo mọi người theo. Người âm lãnh đạo bằng cách hiểu từng người rồi đặt đúng chỗ, xây hệ thống chạy được mà không cần mình luôn có mặt. Nhiều tổ chức bền lâu do người nghiêng âm dựng nên, chỉ là họ ít xuất hiện nên ít ai kể.
Xem cán cân âm dương của chính mình
Biết mình thuộc ngũ hành nào là biết chất liệu. Biết mình nghiêng âm hay nghiêng dương mới biết chất liệu ấy vận hành ra sao.
Bạn có thể lập lá số tại công cụ Lập lá số Bát Tự. Nếu đang cần chọn thời điểm cho một việc cụ thể, dùng thêm công cụ Xem ngày tốt xấu theo Bát Tự.
Muốn được đối chiếu toàn cục lá số, xem cán cân âm dương đang nghiêng bên nào và nên bù ra sao, gửi lại đủ ngày, tháng, năm và giờ sinh, cùng xem với nhau.
Về thông tin của bạn: chỉ cần ngày, tháng, năm và giờ sinh. Không cần thông tin nào khác.
Đọc thêm cùng chủ đề








